Lãi suất (Interest Rate) Lãi suất là một phạm trù rất quan trọng của kinh tế học, của thị trường và của cuộc sống kinh doanh. Chúng ta hiểu lãi suất theo nghĩa "giá cả" giống như mọi loại giá cả hàng hóa khác trên thị trường. Điều khác biệt duy nhất của lãi suất so với các loại giá cả khác là nó chính là giá của một loại hàng hóa rất trừu tượng. Chúng ta cần định nghĩa chính xác cái hàng hóa và trên đó lãi suất trở thành giá cả. Đó là cái giá phải trả cho "sự trì hoãn thanh toán." Bản thân cách gọi này tuy chính xác, nhưng lại cũng rất trừu tượng. Một cách nhìn cụ thể hơn là chi phí cơ hội do việc không có sẵn tiền mặt gây ra, chẳng hạn bất tiện khi cần thanh toán mà không có tiền hoặc có nhu cầu sử dụng bây giờ nhưng không thể thỏa mãn được ngay lập tức, v.v.. Như thế cách hiểu rõ và chính xác nhất của lãi suất là "cái giá phải trả cho hi sinh tiêu dùng tương ứng với khoản tiền cho vay đi." Bản chất của nó chính là chi phí cơ hội cho việc nhận tiền lại muộn hơn và trì hoãn tiêu dùng trước mắt. Đơn giản hơn trong cuộc sống, chúng ta thường nhìn lãi suất ở một dạng của giải thích phía trên, nhưng rất hẹp là "giá của một khoản tiền vay." Từ năm 1500 Trước Công Nguyên, tín dụng đã ra đời và kèm theo nó là lãi suất trong tộc người Assyrians. Thời Trung Cổ ở Châu Âu, lãi suất vẫn tồn tại, nhưng vì lý do khác vì Nhà thờ khi đó nắm quyền hành lớn và thực tế là kỳ thị việc họ cho là tranh chấp quyền của Chúa, quyền quyết định một khoản tiền trong tương lai. Lãi suất khi này được xem là công cụ "hạn chế" bản chất hợp đồng của tín dụng và lòng tin tài chính. Ở Việt Nam, lãi suất rất hay bị phóng viên viết sai thành "lãi xuất". Suất cần hiểu theo âm Hán là một phần, và lãi suất chính là phần (suất) lãi trả tính trên đơn vị nào đó, ví dụ % trong một năm.

Lãi suất FED được ấn định như thế nào? Cục dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng " lãi suất quỷ vốn của FED" Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường. Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiếc khấu ,lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay. Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi xuất ưu đãi và là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với lãi suất quỷ vốn tại FED .Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của những khách hàng tin cậy nhất. Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn. Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ở mức 0,25% hoặc 0,5%. Từ năm 2 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế .Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát . Ngày 25/03/2003 "lãi suất quỷ vốn tại Fed" tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006. Và mức lãi suất này vẫn giữ nguyên cho đến nay.