Chào mừng bạn đến với Diễn đàn Vàng Sài Gòn.
Vietnam Trading Challenge
+ Trả Lời Ðề Tài
Hiện kết quả từ 1 tới 9 của 9
  1. #1

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định Một số danh từ chuyên môn

    Buy Limit = mua ở một giá bạn chỉ định HOẶC thấp hơn mà thôi.
    Sell Limit = Bán ở một giá bạn chỉ định HOẶC cao hơn mà thôi.

    Stop là một loại order mà bạn xài khi bạn chỉ muốn thua lổ ở một mức nào thôi.

    Buy stop = Sau khi bạn short một đồng tiền nào đó, bạn chỉ chấp nhận thua ở một mức nào đó. Thí dụ, bạn short đồng Pound @ 1.9864 và bạn chỉ muốn thua 36 pips. Bạn đặt một Buy stop order ở 1.9900 để khi nó lên đến đó thì bạn sẽ đi ra. Như thế bạn chỉ có thua 36 pips. Nếu bạn trade mini account thì bạn sẽ thua 36 dollars. Nếu bạn trader regular account thì bạn sẽ thua 360 dollars cho mỗi lot.

    Sell stop thì ngược lại. Bạn go long đồng Pound @ 1.9864 và bạn chỉ muốn thua 14 pips thì bạn đặt cái sell stop @ 1.9500 thì khi giá rớt xuống đến đó thì bạn sẽ ra. Đơn giản thế thôi.

    Trailing Stop....khi bạn đang ăn, nhưng bạn không muốn thua khi giá rớt trở lại thì bạn đặt sell stop dưới giá. Và khi giá tiếp tục đi lên thì bạn tiếp tục dời giá lên theo. Tùy theo bạn muốn đặt bao xa ở giá hiện tại, giá lên thì bạn cứ đi theo. Nếu là a short postion thì khi giá rớt, bạn cứ dời giá xuống theo.

    (Mình sẽ cập nhật các khái niêm, nếu các bạn có thì bổ sung thêm nhé)
    thay đổi nội dung bởi: Gold, 13-05-2008 lúc 23:25

  2. #2

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Stop loss là danh từ chung để nói lên sự kiện bạn muốn giảm mức thua thiệt của mình ở một độ nào. Buy stop & Sell stop nói lên cái directional position mà bạn muốn cut loss.

  3. #3

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Trên các trading desks on the Street người ta không xài các danh từ như BUY/SELL. Tại vì các thị trường đó có thể bán khống (short sale) được. Và khi anh short sale, anh cuối cùng cũng phải mua lại để close cái position của anh. Thành ra để tránh hiểu lầm là anh chỉ đơn giản mua (go long), hay là anh mua lại (cover buy) vì lúc trước anh đã short sale, người ta xài cách danh từ LONG (mua vô), Short (short sales) trong equity market để nó rỏ cách mua bán của anh. Danh từ này từ từ được chuyển qua cách thị trường khác và được xài luôn. Ngoài ra, nó còn mang ý nghĩa của một loại market. Long = bullish; Short = bearish. Khi ai nói với anh là "tôi short market này" thì đó có nghĩa là người đó bearish về market. Nếu họ nói tôi "long market" thì có nghĩa là họ bearish.

    Các danh từ Long/short, cover buy, naked short xuất phát từ options market. Vào đó anh sẽ thấy nhiều danh từ hơn nữa. Mỗi danh từ nói lên một trạng thái mua bán của thị trường. Dần dần khi VN hội nhập thị trường tài chánh thế giới thì các danh từ này sẽ phổ thông hơn. Các anh nên học nó thẳng từ tiếng Anh, đừng dịch nó ra tiếng Việt làm chi, dể gây ngộ nhận. Đây là một international language. Vào thị trường tài chánh của thế giới, chỉ cần nói long hay short là người ta hiểu liền. Mai sau này trong các anh có ai làm cho một trading desk của một nhà bank VN thì nên xài danh từ này để nói chuyện với các trading parties khác. Nếu anh xài lộn xộn mà gặp mấy thằng traders khó chịu, nó cúp phone liền không thèm nghe anh giải thích đâu. Thời giờ là tiền bạc on the trading floor. Không ai rảnh để nghe anh giải thích là anh muốn làm gì. Nói phải hiểu, không hiểu là nó cúp phone để trade với người khác.

  4. The Following User Says Thank You to Gold For This Useful Post:

    kieugold (03-02-2012)

  5. #4

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Protective = bảo vệ (tỉnh từ); Protective stop = một loại order mà giá đã được định sẵn. Khi giá (price) mà rớt xuống đến đó là broker tự động bán. Thí dụ anh mua stock XYZ @ 20/share. Anh đặt cái stop loss @ 15/share. Anh bỏ đi làm công việc riêng. Nếu giá của stock mà lọt xuống còn 15 trong lúc anh vắng mặt thì broker sẽ tự động bán, khỏi cần sự có mặt hay đồng ý của anh.

    Long = tiếng lóng của BUY. Tuy mang tiếng là "lóng" nhưng thật sự đây là một danh từ chính xác để diễn tả hành động của anh. Khi nói là LONG, có nghĩa là anh mua. Danh từ này được dùng để phân biệt nó với chữ BUY bình thường. Vì Buy nhiều khi có nghĩa là anh BUY TO COVER (sau khi anh đã short sale = bán khống), chứ không phải anh chỉ mới Buy. Ngược lại, khi xài chữ LONG thì người ta biết là anh mới MUA, chứ không phải là anh BUY to cover cho một cái short position.

    Short postion: Bán khống. Bán khống có nghĩa là BÁN trước MUA sau. TTVN chưa có cái này. Nhưng cách thị trường thế giới khác có. Trading gồm hai hành động: Bán & Mua. Cả hai hành động này không nhất thiết phải đi theo thứ tự: Mua ----> Bán. Anh có thể Bán trước rồi Mua lại sau. Câu hỏi mà tôi thường nghe khi nói về cái này là: Tôi chưa có đồ thì sao bán được? Có nghĩa là tôi chưa có stock, currency trong tay thì sao bán được? Trong một margin account, brokers cho anh MƯỢN stocks, currency để anh bán ở cái giá anh muốn. Sau đó, nếu giá rớt thì anh đi mua về trả lại.

    Anh nên nhớ là khi anh mượn, anh chỉ thiếu stocks, currency, bonds, chứ anh không thiếu TIỀN. Cho nên khi anh trả lại anh chỉ cần trả lại món đồ mà anh đã mượn, chứ không phải số tiền mà anh mượn. Anh mượn 1000 shares ABC @ 30/share. Vậy có nghĩa là anh thiếu 1000 shares, chứ không phải 30K. Mai mốt shares của ABC đó rớt xuống còn 25/share thì tổng số tiền chỉ còn có 25K. Anh thiếu người ta 1000 shares ABC mà anh mượn bán lúc đầu ở giá 30K. Bây giờ anh bỏ 25K để đi mua lại. Tiền lời là 5K.

    Buy on dip
    Dip = chìm, nhận xuống. Giống như nhận xuống nước. "Buy on dip" là hiện tượng khi giá stock rớt mạnh và investors nhảy vào mua bất chấp thiệt hại. Hiện tượng này thường xảy ra trong một bull market rất mạnh. US market của 2000 có rất nhiều hiện tượng này.

  6. The Following User Says Thank You to Gold For This Useful Post:

    kieugold (03-02-2012)

  7. #5

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Carry trade là một hình thức trade đơn giản dựa theo phân lời. Khi hai quốc gia, Nhật & Anh, có hai cái phân lời khác biệt như Nhật = 1%; Anh Quốc = 5%. Nếu anh mua đồng Pound của Anh và bán đồng Yen của Nhật thì anh được hưởng thêm 4% tiền "dividend" vì phân lời của Anh cao hơn của Nhật.

    Traders trên thế giới đổ dồn vào mua Pound và bán Yen để hưởnng cái 4% này. One-sided bet là danh từ nói lên hiện tượng thiên hạ đổ dồn đi mua đồng Pound, không ai đi mua Yen cả, bởi vậy mới gọi là ONE SIDE. Bet = đánh cá. Đây là tiếng lóng của trader khi nói về hiện tượng speculating trong financial markets.

  8. The Following User Says Thank You to Gold For This Useful Post:

    kieugold (03-02-2012)

  9. #6

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Tại sao lại gọi là Bull và Bear market?
    Bull là con bò tót, còn Bear là con gấu. Vậy tai sao người ta lại dùng tên chúng để thể hiện trend của thị trường chứng khoán?

    Điều này bắt nguồn từ hành động tấn công kẻ thù của chúng: Bull thì dùng sừng hất kẻ địch lên cao, còn Bear thì lại dùng chân đè kẻ thù xuống dưới.

    Cái hay ở đây theo tôi là cả hai đều thực hiện hành động tấn công. Điều này có nghĩa là khi tham gia vào thị trường chứng khoán, thì dù đang ở Bull hay Bear thì chúng ta cũng đang co nguy cơ bị tấn công (về mặt tâm lý). Nếu Bull sẽ húc chúng ta lên cao thì chúng ta phải cẩn thận, vì càng cao thì chúng ta rơi xuống càng mạnh và sẽ càng đau, nhưng vì là hất lên không trung nên chúng ta thoát khỏi Bull dễ hơn. Với Bear thì hơi khác, khi Bear đè chúng ta xuống thì hãy cẩn thận vì dưới chúng ta là đất nên khó thoát hơn. Nếu Bear tấn công mạnh thì chúng ta sẽ có thể tử vong mà không còn đường thoát (nhảy lầu).

    Điều tai hại nhất ở đây là Bull húc chúng ta lên cao và hất sang cho Bear. Nếu nó hất nhẹ, chúng ta rơi xuống còn đứng được thì chúng ta sẽ dễ dàng thoát thân. Còn bị hất mạnh, chúng ta ngã sóng soài ra đất và lúc này thì chú Bear sẽ đập chân xuống trong lúc chúng ta chưa hoàn hồn. Liệu có thoát được không?

  10. #7

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Aversion (danh từ) = Sự tránh né về cái gì.
    Avert (động từ) = Tránh né.
    To avert a crisis = tránh được một nguy cơ...

    Risk Aversion = Một hành động giảm nguy cơ, hay tránh nguy cơ. Trong financial market, chữ Risk Aversion có nghĩa là tránh rủi rỏ, hay giảm rủi ro trong đầu tư.

    Hawish = danh từ này là một tiếng lóng được mượn từ Chính trị hay quân sự. Haw = con chim Ó. Trong chính trị Hoa Kỳ, các dân biểu nào hiếu chiến thường được gán danh là con Ó. Ngược lại, người chủ Hòa thường được gán danh hiệu con Thiên Nga (Dove). Hawkish & Dovish là tiếng tỉnh từ (trong tiếng Anh khi có ISH đi phía sau có nghĩa là tỉnh từ nói lên cái trạng thái) có nghĩa là hiếu chiến và chủ hòa.

    Trong financial market, danh từ hawkish và dovish thường đi chung với hướng đi của phân lời. Một ông FED governor nào đó trong hệ thống FED có thể là một người hawkish (ham tăng phân lời) so với một người dovish (giảm phân lời).

  11. #8

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    Forward Market
    Đây là một market nguyên thủy của forex market khi trước. Forward là một contract giữa hai người. Nó thường dùng để hedge cho các institutions hay các công ty lớn. Anh có thể customize nó tùy theo nhu cầu. Thí dụ nhé. Anh là công ty Toyota. Hằng năm anh xuất cảng cả triệu chiếc xe khắp thế giới. Giá trị của tiền JPY và tiền các quốc gia khác thay đổi hằng ngày. Anh sẽ giao xe vào cuối năm 2008, nhưng lúc đó anh không biết giá tiền JPY so với tiền bản xứ bao nhiêu. Dựa vào giá thành của xe và số % tiền lời anh muốn có, anh ký một currency forward contract với các công ty bản xứ, đồng ý trao đổi JPY=XX gì đó. Anh chấp nhận cái exchange rate này. Nếu vào cuối năm, nó thấp hơn thì anh lời. Ngược lại, nếu nó cao hơn thì anh chỉ được bao nhiêu đấy thôi. Điều chính là anh không có lổ. Forward contract thường được xài để hedge là thế. Họ không vào cuộc chơi để ăn thua trên currency. Họ vào đó để kiếm đường giữ vốn. Tuy nhiên, hiện giờ và trước đây thì các trading desks on the Street, nhất là Citibank, xài forward contracts như một vũ khí để trade luôn.

    - Futures Market
    Cái này cũng giống y như cái ở trên, nhưng khác ở chỗ là một trading exchange (CBOT, CME, NYMEX v...vv) tạo ra cái contract với những điều luật rỏ ràng. Anh chỉ việc vào đó trade thôi. Anh không lo gì về điều luật của contract đó. Mua bán futures contracts cũng giống như mua bán stock thôi. Chỉ khác có một điều là nó có margin (5%) khá cao so với stocks.

    - Options Market
    Cái này là một market riêng biệt, không dính líu gì đến currency cả. Nó có thể áp dụng cho bất cứ underlying asset nào (stocks, bonds, currency, metals, gold, oil, rice....đủ hết). Trade cái này không khó vì mọi sự giao động của nó đều xuất phát từ sự giao động của giá underlying asset. Tuy nhiên, điều làm cho nó khó trade và khó hiểu nhất là TIMING. Trong phương pháp định giá (valuation technique) của nó, Time là một trong những điều tối quan trọng, vì Time ảnh hưởng rất lớn đến volatility của contract. Và volatility là đơn vị quan trọng duy nhất trong sự thay đổi của option premium.

    Nếu tính dollar value thì forward market rất lớn. Tính theo con số contract traded thì nó khá nhỏ. Lý do là vì mỗi một forward contract, số tiền trade thường được tính bằng TỶ. Trong khi số lượng tiền trade in spot market thì được tính bằng 100K (regular account), nhưng con số lots traded thì rất cao. Sang đi sớt lại thì cả hai ngang ngang nhau. Một số nhà banks lớn như Bank of America, Citibank, Deutsch Banks đứng phía sau để làm clearing agents cho các forex brokers thường xài forward contracts để hedge spot market.

  12. #9

    Tham gia ngày
    May 2008
    Bài gửi
    84
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Mặc định

    COCKROACH THEORY

    Trên Wall Street có một lý thuyết gọi là COCKROACH THEORY. Cockroach = con gián. Lý thuyết con gián nói rằng khi bạn thấy ở nhà có con gián thì có nghĩa là không có chỉ một con đâu. Rất có thể là một ổ gián nằm đâu rồi đó. Coachroach theory trên Wall Street là khi bạn thấy một chú dính đạn thì mấy chú khác cùng nghề cũng đã đang dính rồi, chỉ chưa có nổi lên thôi.


 

Members who have read this thread : 0

Actions :  (View-Readers)

There are no names to display.

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình