PDA

View Full Version : Central bank - Ngân hàng trung ương



Gold
14-05-2008, 01:03
Dựa theo tài liệu “ Nhập môn tài chính - tiền tệ” của ĐH Kinh Tế và tham khảo một số tài liệu khác, tôi tóm tắt một số kiến thức cơ bản về ngân hàng trung ương.

I/ Bản chất của ngân hàng trung ương (NHTW):

Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ đều có một NHTW. NHTW có thể được gọi dưới nhiều cái tên khác nhau, có những tên gọi mang tính kế thừa lịch sử như: ngân hàng Anh Quốc, ngân hàng Nhật Bản, cũng có khi gọi tên theo cách phản ánh tính chất sở hữu hoặc thiết chế chủ quản của nó như: ngân hàng nhà nước Việt Nam, ngân hàng quốc gia Thụy Sỹ, hoặc gọi thẳng là NHTW như: NHTW Chilê, Hệ thống Dự trữ liên bang Hoa Kỳ.

Nhưng về mặt bản chất NHTW có thể biệt lập hoặc phụ thuộc chính phủ, vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng – ngân hàng.
Trong hoạt động nó không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với kho bạc và các ngân hàng trung gian.

II/ Mô hình tổ chức của NHTW:

1) NHTW độc lập với chính phủ:
Theo mô hình này chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Mô hình này được xây dựng trên quan điểm cho rằng nếu để NHTW trực thuộc chính phủ, sẽ bị chính phủ lợi dụng công cụ phát hành để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, từ đó gây ra lạm phát.
Trên thế giới chỉ một vài nước có NHTW thực sự độc lập với chính phủ, đó là Hệ thống Dự trữ liên bang Hoa Kỳ, ngân hàng quốc gia Thụy Sỹ, NHTW Đức.

2) NHTW trực thuộc chính phủ:
Theo mô hình này chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với NHTW thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành NHTW, chính phủ can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ.
Mô hình này dựa trên quan điểm cho rằng chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô. Do đó chính phủ phải nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng và phối hợp một cách đồng bộ, hiệu quả các công cụ đó. Chính sách tiền tệ là một trong những bộ phận chủ yếu của chính sách kinh tế vĩ mô, việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ của NHTW, cho nên NHTW phải trực thuộc chính phủ.
Mô hình này áp dụng ở nhiều nước, tiêu biểu cho mô hình này là: ngân hàng nhà nước Việt Nam, ngân hàng Anh Quốc, ngân hàng Nhật Bản, . . .

Không phải ngẫu nhiên mà trong số các quốc gia công nghiệp thì Đức và Thụy Sỹ đã trải qua những thời kỳ lạm phát thấp nhất. Mục tiêu chủ yếu mà các NHTW của các quốc gia này quan tâm là ổn định giá cả. Mặc dù thống đốc NHTW Đức và Thụy Sỹ lo lắng về thất nghiệp, nhưng sự lo lắng bị vơi đi bởi mối quan tâm về việc thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng quá sẽ làm nhen nhóm những ánh than hồng của lạm phát.

Mối quan tâm giữa lạm phát và sự độc lập của NHTW được biểu hiện qua biểu đồ dưới đây (nguồn : Principles of Money, Banking, and Financial Markets, Tenth Edition, trang 348), nó phác họa tỷ lệ lạm phát trung bình của các quốc gia trong thời kỳ 1955 – 1988.

( Còn tiếp http://vietcurrency.com/discussion/images/smilies/redface.gif )

Gold
14-05-2008, 01:04
Gần đây nhiều bác bàn luận nhiều về lạm phát, chính sách tiền tệ của NHTW. Về lạm phát thì có topic nói về nó rồi, nên tôi mở topic này giới thiệu về NHTW http://vietcurrency.com/discussion/images/smilies/smile.gif
Có tổng cộng 4 phần, sau đó sẽ giới thiệu sơ về FED và ECB.
+ + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + + +


III/Chức năng của NHTW:
NHTW có chức năng quản lý vĩ mô về lĩnh vực tiền tệ - tín dụng – ngân hàng và thanh toán. Chức năng này được thể hiện trên các khía cạnh sau:

1) Độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết khối lượng tiền cung ứng:
Hoạt động cung ứng tiền tệ của NHTW tác động một cách trực tiếp đến độ tăng giảm của tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng.
Ngày nay, thời đại của chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán, bản thân tiền giấy không thể tự điều tiết giữa chức năng phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán với chức năng cất trữ. Do vậy việc phát hành giấy bạc của NHTW phải đảm bảo phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế cả về số lượng lẫn cơ cấu cũng như yêu cầu quản lý vĩ mô. Đồng thời NHTW cần kiểm soát toàn bộ khối lượng tiền cung ứng, tổ chức công tác điều hòa lưu thông tiền tệ, kiểm soát quá trình tạo tiền của các ngân hàng trung gian, nhằm vừa đảm bảo đủ phương tiện trao đổi, vừa đảm bảo kiểm soát lạm phát.

2) NHTW là ngân hàng của các ngân hàng:
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, NHTW đã từ bỏ mối quan hệ tiền tệ - tín dụng – ngân hàng và thanh toán với công chúng, mà chỉ thực hiện chức năng ngân hàng đối với các ngân hàng trung gian, nghĩa là khách hàng của NHTW trong mối quan hệ này là ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. Chức năng này thể hiện trên các khía cạnh

2.1 NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi của ngân hàng trung gian:
Ngày nay tất cả ngân hàng trung gian đều mở tài khoản tại NHTW vì hai lý do: thứ nhất là vì điều này mang lại lợi ích cho ngân hàng trung gian, thứ hai là vì pháp luật quy định bắt buộc. Tiền gửi mà các ngân hàng trung gian gửi và NHTW gồm hai loại:
-- Tiền gửi dự trữ bắt buộc: khoản tiền gửi này áp dụng bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian có huy động vốn tiền gửi của công chúng. Mức dự trữ cao hay thấp tùy theo quy định của NHTW trong từng thời kỳ cho phù hợp với chính sách tiền tệ. Mục đích của việc dự trữ bắt buộc này là để giới hạn mức tín dụng tối đa mà ngân hàng trung gian có thể cung cấp, tránh trường hợp các ngân hàng trung gian vì hám lợi, huy động được bao nhiêu, cho vay hết bấy nhiêu, dẫn đến mất khả năng thanh toán gây thiệt hại đến người gửi tiền nói riêng và đến nền kinh tế nói chung. Hơn nữa việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian tại NHTW còn là một phương tiện để NHTW có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng, thực thi chính sách tiền tệ.

-- Tiền gửi thanh toán: mục đích của khoản tiền này là để đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên giữa các ngân hàng với nhau và để điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khi cần. Mặt khác việc các ngân hàng trung gian mở tài khỏan thanh toán tại NHTW còn giúp cho ngân hàng trung gian có thể tận dụng được nguồn vốn tạm thời dư thừa của mình.

2.2 NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian:
Hoạt động chính của ngân hàng trung gian là đi vay để cho vay. Nhưng không phải lúc nào hoạt động của ngân hàng trung gian cũng thuận lợi. Những đợt rút tiền ồ ạt của dân chúng ( vì lý do lãi suất trở nên quá thấp so với lạm phát, hoặc mất lòng tin vào hoạt động của ngân hàng, . . . ) rất dễ lan tràn và dễ làm cho ngân hàng trung gian mất khả năng thanh toán. Trong những trường hợp này, ngân hàng trung gian không thể thu hồi tiền cho vay về kịp để chi trả, không còn chỗ vay mượn nào khác, ngân hàng trung gian đến chỗ NHTW vay mượn như là một phương cách cuối cùng. NHTW sẽ cho ngân hàng trung gian vay thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá.

Nếu NHTW dễ dãi trong việc cấp tín dụng thì sẽ tạo cho các ngân hàng trung gian tâm lý ỷ lại, kết quả là gây rủi ro cho hoạt động ngân hàng tăng cao. Vì nếu một ngân hàng trung gian biết NHTW sẽ cấp tín dụng khi nó gặp khó khăn thì nó sẽ dám chấp nhận nhiều rủi ro hơn trong kinh doanh ( mục đích là thu lợi nhuận cao). Chính điều này giải thích tại sao NHTW rất thận trọng, không sử dụng thường xuyên vai trò người cho vay cuối cùng của mình.

2.3 NHTW thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng:
NHTW là cơ quan quản lý và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, cụ thể là:
-- NHTW thẩm định và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho ngân hàng trung gian.

-- Điều tiết các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trung gian bằng những biện pháp kinh tế và hành chính. Ví dụ như quy định tỷ lê bắt buộc, hạn mức tín dụng, ban hành chính sách lãi suất, . . .
-- Thanh tra và kiểm soát thường xuyên và toàn diện mọi mặt hoạt động của các ngân hàng trung gian. Quyết định việc đình chỉ hoặc giải thể các ngân hàng vi phạm luật pháp hoặc mất khả năng thanh toán.

Như vậy khi thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng, NHTW đã trở thành trung tâm thanh toán, chuyển nhượng bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. Với chức năng này, NHTW có thể thực hiện việc điều tiết khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.

3) NHTW là ngân hàng của nhà nước:
-- NHTW nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, tổ chức thanh toán giữa kho bạc với ngân hàng trung gian, làm đại lý phát hành các loại trái phiếu nhà nước, quản lý dự trữ quốc gia và cho chính phủ vay để cân bằng thu – chi ngân sách trong những trường hợp cần thiết.

--NHTW tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, soạn thảo chính sách tiền tệ, kiểm tra và kiểm soát việc thực thi chính sách tiền tệ. NHTW thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ - tín dụng ngân hàng và thanh toán đối nội cũng như đối ngoại của đất nước.
+Về đối nội: NHTW phải có những biện pháp hướng các hoạt động của các ngân hàng trung gian vận hành một cách lành mạnh, có hiệu quả, góp phần ổn định tình hình lưu thông tiền tệ, tạo công ăn việc làm và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.

+Về đối ngoại: NHTW đóng vai trò là người hướng dẫn, chỉ đạo và tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng quan hệ kinh doanh ngân hàng trên thị trường quốc tế, phát triển các dịch vụ thanh toán, . . . nhằm phục vụ đắc lực cho tiến trình hội nhập với kinh tế toàn cầu một cách thành công. NHTW thay mặt chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và thanh toán với nước ngoài.